Hồ sơ năng lực

Tuyên truyền

Website liên kết

Đăng nhập

Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm (sau đây viết tắt là VTVL) và cơ cấu ngạch công chức và Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP có thể nói là một bước đi nhằm cụ thể hóa đề án "Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức" theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2012; trong đó có nội dung đẩy mạnh phân cấp quản lý và hoàn thiện việc tổ chức công vụ gọn, nhẹ; giảm quy mô công vụ, tránh chồng chéo, tiếp tục tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. "Khung năng lực" có thể là một trong những khái niệm khá mới mẻ với nền công vụ Việt Nam được đề cập đến trong Nghị định và Thông tư nêu trên.

Tuy nhiên, nội dung này được định nghĩa khá sơ sài trong Thông tư số 05/2013/TT-BNV là: "Khung năng lực của từng VTVL được xây dựng gồm các năng lực và kỹ năng phải có để hoàn thành các công việc, các hoạt động nêu tại Bản mô tả công việc ứng với từng vị trí việc làm" và chưa có bất kỳ hướng dẫn hay nội hàm cụ thể nào được cụ thể hóa. 

Thực chất, khái niệm về Khung năng lực bắt nguồn từ định nghĩa về năng lực đã được nghiên cứu, áp dụng trong quản lý nhân sự ở cả lĩnh vực công và tư tại nhiều quốc gia. Theo Cục quản lý nhân sự (Office of Personnel Management) của Mỹ, năng lực được hiểu là đặc tính có thể đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Năng lực có thể phát triển, nâng cao và duy trì thông qua các khóa tập huấn, việc luân chuyển vị trí, kinh nghiệm thực tiễn, quá trình học tập hoặc tự bản thân phát triển. Việc có đạt được cấp độ nào đó của một năng lực được đánh giá thông qua khả năng áp dụng năng lực đó trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau.

noiham

Vì thế, Khung năng lực (Competences framework) là bảng mô tả tổ hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc điểm một cá nhân cần để hoàn thành tốt công việc. Nói cách khác, khung năng lực có thể hiểu là tiêu chuẩn chức danh công chức và tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương trở lên. Đây là một trong những công cụ quản lý nhân sự khoa học, giúp định hướng những tố chất, năng lực cần có ở công chức nhằm đạt mục tiêu đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, tạo nên một nền hành chính "chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch và hiệu quả". Kết cấu của khung năng lực thường gồm 3 nhóm năng lực chính sau:

·         Nhóm năng lực chung: Phản ánh văn hoá và năng lực cốt lõi của tổ chức, yêu cầu tất cả cá nhân trong tổ chức phải có và thể hiện được trong quá trình làm việc.

·         Nhóm năng lực chuyên môn/ đặc thù: Là những năng lực thuộc lĩnh vực chuyên môn, mang tính đặc thù cho vị trí công việc hoặc bộ phận mà cá nhân cần có để có thể đảm nhận vị trí công việc đó.

·         Nhóm năng lực quản lý: Là các yêu cầu đối với các công việc có tính chất quản lý bao gồm hoạch địch, tổ chức, điều phối nguồn lực (ngân sách, con người…) và thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá công việc. Tùy theo tính chất phức tạp, mức độ và phạm vi quản lý mà mỗi chức danh có những yêu cầu về tiêu chuẩn năng lực quản lý khác nhau.

Hiểu được tầm quan trọng của khung năng lực trong việc triển khai Thông tư số 05/2013/TT-BNV, Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng đã tổ chức bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng xác định VTVL và xây dựng khung năng lực dành cho công chức đến tất cả các cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, Sở cũng tiến hành nghiên cứu một cách bài bản, khoa học kết cấu, nội dung của khung năng lực và cụ thể hóa vào các biểu mẫu thống kê nhiệm vụ của công chức. Sau khi lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị và toàn thể công chức, Sở sẽ trình UBND phê duyệt Khung năng lực dành cho công chức thành phố Đà Nẵng để làm tiền đề áp dụng cho các khâu xây dựng VTVL, tuyển dụng, đánh giá kết quả làm việc, đào tạo- bồi dưỡng, quy hoạch và bổ nhiệm trong công tác cán bộ./.

Thu Trang - http://noivu.danang.gov.vn